Website liên kết

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012


Triết lý giáo dục của người Việt

Tống Văn Công

Hội nghị TƯ 6 đề ra việc thực hiện nghị quyết Đại hội 11 “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục-đào tạo”. Các nhà nghiên cứu lý luận sôi nổi bàn về đổi mới giáo dục. Tranh cãi gay gắt nhất là chuyện tìm triết lý giáo dục. Nhiều người cho rằng không thấy lối ra cho giáo dục là vì không tìm được triết lý giáo dục. Một số vị giáo sư khẳng định rằng nước ta chưa từng có một triết lý giáo dục, ngay cả thời hưng thịnh nhất như Lý, Trần. Cách đây mấy thập kỷ, khi giáo dục bắt đầu lâm vào khủng hoảng, người ta cho phục hồi câu “tiên học lễ, hậu học văn”, một triết lý giáo dục của nho giáo từng được cả châu Á vận dụng, nhưng lần này đã không cứu vãn nỗi đà xuống cấp của nền giáo dục Việt Nam.
Nước ta đã từng bị ngàn năm bắc thuộc, kẻ địch dùng triết lý giáo dục của chúng, chữ viết của chúng, văn hóa, phong tục của chúng để hòng đồng hóa dân tộc ta, vậy mà không thành. Phải chăng đó là vì chúng ta có nền tảng văn hóa và triết lý giáo dục cao hơn họ?
Trong một bài nói năm 1974, ông Lê Duẩn cho rằng tư tưởng nhân văn Việt Nam thể hiện ở câu ngạn ngữ “thương người như thể thương thân” cao thượng hơn chữ nhân của Khổng giáo, “việc gì mình không muốn thì đừng gây ra cho người khác” (Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân). Văn hóa Việt Nam đề cao tình thương yêu, quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc, chủng tộc cũng vô cùng cao thượng: “Bầu ơi, thương với bí cùng; Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn”.
Việt Nam là một trong số các dân tộc chịu quá nhiều truân chuyên bởi phải liên tục đối phó với thiên tai, địch họa. Do đó, người Việt có tư duy rất năng động, không suy nghĩ một chiều, luôn trăn trở tìm tòi nhiều kế sách. Trong giáo dục, ông cha ta có nhiều triết lý đối chọi, hoặc bổ sung cho nhau, hậu thế phải tùy cơ mà vận dụng. Đề cao vai trò người thày,”không thày đố mày làm nên”, nhưng ngay sau đó ông cha ta lại khuyên”học thày không tày học bạn”. Học thày học bạn, nhưng còn phải học từ cuộc sống nữa “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. “Học” và “hành” vốn là hai từ gốc hán, sau khi du nhập vào nước ta thì chúng nhập lại thành một từ “học hành” có tính triết lý: học phải đi đôi với hành. “Học vấn” cũng là từ gốc hán, ở Trung Quốc có nghĩa là người có công phu ăn học, nhưng sang ta từ “học” cộng với “hỏi” một từ thuần Việt, trở thành triết lý giáo dục: Hỏi đóng vai trò quan trọng trong sự học. Đặc biệt, chúng ta có hai triết lý giáo dục quan trọng mà cho đến nay ngẫm ra vẫn đang ngang tầm thời đại, đó là: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” và “Học một, biết mười”. Theo từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân thì “Học ăn, học nói, học gói học mở: Lời khuyên người ta điều gì cũng cần phải học, kể cả những việc tưởng như tầm thường”; “Học một, biết mười: Nói người thông minh từ điều học được suy rộng ra biết nhiều hơn”.
Các định nghĩa kể trên đều đúng, nhưng có lẽ chưa đầy đủ. Mong rằng các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục bỏ công phân tích, chắc chắn sẽ khám phá được nhiều điều bổ ích. Điều kỳ diệu của câu ngạn ngữ “học ăn, học nói, học gói, học mở” là chọn ra được bốn động từ ăn, nói, gói, mở, mỗi từ chỉ ra rất nhiều cách nghĩ trái ngược nhau, cách làm đối chọi nhau, từ cụ thể đến trừu tượng. Động từ “ăn” kết hợp với một hoặc nhiều từ khác tạo ra được khoảng 300 từ mới, nhiều từ chỉ nghĩa bóng như “ăn cướp cơm chim” là hành vi hà hiếp người bần cùng, “ăn cây nào rào cây ấy” chỉ sự trung thành; “ăn cháo đá bát” chỉ hành vi phản bội. Cũng như vậy, từ “nói” có thể chỉ ra hơn 200 hoạt động khác nhau. Từ “gói” và từ “mở” vừa chỉ những hoạt động cụ thể như “gói món đồ”, vừa miêu tả những việc trừu tượng như “gói gọn vấn đề rộng lớn này trong một vài câu”; “mở khóa chiếc va li” và “mở cửa hội nhập quốc tế”, “mở lòng, mở dạ”. “Học ăn, học nói, học gói, học mở” chính là điều kiện, là phương pháp để “học một, biết mười”, làm xuất hiện những thiên tài Việt Nam không qua khoa bảng.
Hai thành ngữ này mang triết lý giáo dục sâu sắc của dân tộc ta. Trước hết, xác định chủ thể của sự nghiệp giáo dục là người học. Học là để nâng cao năng lực sống, nhằm đối phó với vô vàn thử thách của xã hội và thiên nhiên. Phải là con người tự do mới có dủ nhân cách để “suy rộng ra”, tưởng tượng được các tình huống sẽ xảy đến và dám quyết định cách xử lý chưa từng có tiền lệ.
“Học một, biết mười” không phải chỉ là nhờ ở trí thông minh. Nhà giáo dục J. Donald Walters rất có lý khi nói: “Trí thông minh đơn độc sẽ là tiêu chí rất nghèo nàn cho sự vĩ đại. Có quá nhiều kẻ thông minh nhưng ngốc nghếch trong thế giới này, tuy thông minh nhưng đáng tiếc là họ đã thể hiện một sự thiếu hiểu biết về lẽ phải thông thường.  Và “những người này không có khả năng ngoại lệ về cảm nhận, vốn là bí mật sau chót của thiên tài”. Ông cho rằng những người đạt được thành tựu phi thường ở bất cứ lĩnh vực nào đều phảỉ có phẩm chất vĩ đại về mặt nào đó như một con người.
Đặt người học là chủ thể thì phải tôn trọng cá tính của trẻ, tôn trọng sự phản biện của người học. Theo Rousseau: “Mỗi đứa trẻ là một tính khí riêng biệt”. Ông khuyên, giáo dục phải quan tâm các năng khiếu bẩm sinh, sự khác biệt của các cá nhân, nếu không sẽ “tiêu diệt khuynh hướng riêng biệt và để lại sự đơn điệu buồn tẻ”. Nhiều nhà giáo dục cho rằng phẩm chất đầu tiên của con người là thành thật với chính mình. “Sự thành thật với bản thân cũng sẽ khiến bạn không thể xảo trá với bất kỳ ai khác” (Shakespeare, trong Hamlet). Luther Burbank nhà thực vật học nổi tiếng cho hay, sự hiểu biết về bản thân mình là một phần thiết yếu đã giúp cho ông hiểu và thực hiện đối với cây cỏ. Thậm chí nhìn thấu triệt các hoạt động vũ trụ cũng cần một mức độ nào đó sự hiểu biết về bản thân. Các nhà giáo dục cho rằng, Pytagore khẳng định trái đất tròn giữa thời cổ đại hẳn không phải từ kiến thức thông thường mà có tính mở rộng ý thức của riêng ông. Phải chăng cũng nhờ “mở rộng ý thức của riêng mình” mà Nguyễn Huệ dám hứa chắc với quân sĩ sẽ cùng ăn Tết ở Thăng Long, nơi đang có 20 vạn quân Thanh hùng hổ chiếm đóng?
Triết lý giáo dục từ hai ngạn ngữ nói trên chỉ ra rằng, cuộc sống muôn mặt, nhìn mặt trước phải biết có mặt sau, khi gói lại phải tính đến lúc mở, mọi vấn đề nãy sinh đều có cách giải quyết, mỗi mục tiêu có rất nhiều đường đến, chân lý phải được khám phá không ngừng, chớ tự buộc mình và buộc người khác vào những giáo điều! Triết lý đó nãy sinh và bảo vệ những phản biện nảy lửa. Khi bọn nha lại khuyên dân “Con vua thì được làm vua. Con sãi ở chùa phải quét lá đa”. Lập tức bị đáp trả: “Bao giờ dân nổi can qua. Con vua thất thế lại ra quét chùa”. Quyết liệt hơn nữa là: “Được làm vua, thua làm giặc”. Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính phản biện vẫn càng sâu sắc. Ví dụ, phê phán thói tâng bốc lãnh đạo một cách quá lố: “Mất mùa là bởi thiên tai. Được mùa bởi có thiên tài Đảng ta!”
Đúng như nhà giáo dục lớn John Dewey đúc kết :”Triết lý là lý luận giáo dục xét như một thực tiễn được thực hiện một cách có chủ tâm”. Triết lý giáo dục Việt Nam đã góp phần tạo ra những con người giành giữ cho đất nước này chiến thắng và trường tồn vậy!



Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống


Hoàng Tụy



Mấy năm nay trong xã hôi ta thường nghe nói đến các lỗi hệ thống. Và trong năm 2011 cụm từ tái cấu trúc được nhắc đi nhắc lại với tần số kỷ lục trong các giải pháp vượt qua khó khăn kinh tế gay gắt hiện nay. Không hẹn mà gặp, các từ này đã trở thành những từ khoá trong phần lớn các nghiên cứu về quản lý kinh tế xã hội trong cả năm 2011. Cho nên có lẽ cũng là tự nhiên nếu câu chuyện đầu năm xoay quanh tái cấu trúc và lỗi hệ thống.
Một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, thành phần, cơ chế hoạt động và cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành phần của nó với nhau và với môi trường bên ngoài.
Trong quá trình hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của nó, một hê thống phức tạp, dù là một doanh nghiệp, một ngành kinh tế, văn hoá, xã hội hay những hệ thống lớn hơn, đều không tránh khỏi lúc này lúc khác có trục trặc. Nếu chỉ là trục trặc trong vận hành bình thường thì có thể dựa theo cơ chế phản hồi để phát hiện và điều chỉnh. Nhưng nếu trục trặc lớn, kéo dài thời gian lâu, thì thường có thể do mục tiêu sai, hoặc cấu trúc của hệ thống có vấn đề, có khuyết tật cơ bản, hoặc cả mục tiêu lẫn cấu trúc đều có chuyện. Khi đó, nếu chỉ xử lý cục bộ, chắp vá, vụn vặt, theo phương thức sai đâu sửa đó, thì không những không giảm bớt được truc trặc, mà có khi còn làm phát sinh thêm những rối ren, phức tạp mới, làm bất ổn gia tăng, đến mức có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Giải pháp đúng đắn trong tình huống đó chỉ có thể là dựa trên phân tích hệ thống, xét lại toàn bộ tổ chức, từ mục tiêu đến cơ chế hoạt động và các mối quan hệ trong nội bộ hệ thống với nhau và với môi trường, để thấy rõ và tìm cách sửa chữa những khuyết tật cơ bản của hệ thống, tức là các lỗi hệ thống, theo cách nói quen thuộc gần đây.
Đó là ý nghĩa các phạm trù “lỗi hệ thống” và “tái cấu trúc” mà gần đây đã được sử dụng khá phổ biến trong các câu chuyện chính trị và kinh tế, xã hội.  
Thực tế xây dựng đất nước hơn ba mươi năm qua đã dạy chúng ta một bài học đắt giá: chỉ trong vòng mười năm sau ngày thống nhất Tổ quốc, đất nước đã đứng trên bờ vực sụp đổ, buộc chúng ta phải tỉnh giấc, nhìn thẳng vào những thất bại gây nên do những lỗi lầm hệ thống tich luỹ trong quản lý kinh tế xã hội, từ đó mới có công cuộc đổi mới mà nhờ đó đất nước đã vượt qua khủng hoảng để hồi sinh kỳ diệu trong thập kỷ 90.
Ngày nay, éo le lịch sử lại đặt thế hệ chúng ta đứng trước tình huống tương tự như 25 năm trước. Bên cạnh những thành tựu bắt nguồn từ đổi mới, trong thời gian 5-7 năm gần đây đã xuất hiện nhiều sai lầm, thất bại đưa đất nước đến những khó khăn hết sức nghiêm trọng. Những gì tich cực mà đổi mới có thể đem lại đều đã đạt tới giới hạn. Nhiều lỗi hệ thống ở tầng sâu trước đây còn khuất nay bắt đầu lộ diện, khiến chúng ta đứng trước sự lựa chọn mới: hoặc tiếp tục làm ngơ với các lỗi hệ thống đó, chấp nhận đối mặt với nguy cơ trì trệ, thậm chí lụn bại và chuốc lấy nguyền rủa của đời sau, hoặc chịu đau giải phẫu và cắt bỏ những mầm bệnh mà thật ra đã ủ sẵn trong cơ thể từ nhiều thế hệ trước, và dũng cảm thay đổi tư duy một lần nữa, mở ra một thời kỳ khai sáng mới, xứng đáng với truyền thống cách mạng của các thế hệ tiền bối và không thẹn với những hy sinh mất mác to lớn của cả dân tộc qua mấy chục năm chiến tranh tàn khốc.
Trước hết, về đời sống chính trị. Có thể nói hầu hết những gì khó khăn, bê bối, trì trệ, suy thoái, hư hỏng, kéo dài trong mấy chục năm qua, suy cho cùng, có nguồn gốc liên quan tới những khuyết tật hệ thống của thể chế chính trị, cho nên sẽ khó có hy vọng khắc phục triệt để nếu không loại bỏ những lỗi hệ thống đó.
Điều nguy hiểm đáng lo, như Tổng Bí Thư đã nhận định trong Hội nghị TƯ vừa qua, là suy thoái biến chất đã diễn ra ở một bộ phận không nhỏ đảng viên giữ vị trí cao trong bộ máy quyền lực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của dân. Nói như dân gian: nhà dột từ nóc. Sở dĩ như vậy là do quyền lực tập trung quá đáng mà không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu, tiếng là thể chế dân chủ nhưng nặng về dân chủ hình thức, luật pháp không nghiêm minh, khiến tham nhũng, tội phạm có điều kiện hoành hành cả ở những nơi lẽ ra phải gương mẫu và trong sạch nhất. Bộ máy hành chính qua nhiều lần “cải cách” ngày càng đồ sộ mà vẫn quan liêu, xa dân, hành dân là chính. Nhiều quan lớn trong bộ máy không ngớt rao giảng đạo đức mà thật ra lối sống đồi truỵ, chỉ chăm chăm lợi dụng chức quyền mưu lợi vinh thân phì gia. Với một nền quốc trị như thế, trách sao văn hoá, đạo đức xã hội không ngày một suy đồi, các bản tin hàng ngày dày đặc những vụ lừa đảo, trộm cắp, chém giết nhau mất hết tính người.
 Thật đau xót khi nghĩ tới một xã hội cách đây chưa lâu từng được ca ngợi nghèo nhưng vẫn giữ được phẩm cách, nay đầy rẫy những cảnh xa xỉ lố lăng, gian dối, xảo trá, không chút tự trọng. Cho nên sửa đổi hiến pháp đi đôi với chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn bộ máy chính quyền, tái cấu trúc ở tầng sâu chính trị nhằm sửa sai hệ thống là yêu cầu khẩn thiết hiện nay cần thực hiện bằng được mới mong có thể lấy lại niềm tin đang mất dần của dân.
Thứ hai, về đời sống kinh tế. Trong mấy thập kỷ mải mê phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao đông giá rẻ, lấy doanh nghiệp Nhà nước làm chủ đạo, xây dựng các tập đoàn chủ chốt dựa trên độc quyền và sự ưu ái của Nhà nước chứ không dựa trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, trong khi đó lơ là văn hoá, giáo dục, khoa học khiến các lĩnh vực này sa sút nghiêm trọng – nay đã  rõ mô hình đó không thể tiếp tục. Tai hại là đường lối phát triển kinh tế thiển cận đó được thực thi trên nền một thể chế lỏng lẻo bị thao túng bởi các nhóm lợi ích, khiến tham nhũng, lộng quyền, thiếu dân chủ đã trở thành những căn bệnh đặc trưng của xã hội Viêt Nam hiện nay. Nếu không đủ quyết tâm trừ diệt tận gốc mà cứ để những căn bệnh này ăn sâu vào xương tuỷ xã hội thì không mong gì những kế hoạch tái cấu trúc kinh tế có thể thực hiện có hiệu quả.
 Sau cùng, nhưng xét về lâu dài lại là căn bản nhất, là đời sống văn hoá, giáo dục, xã hội. Không phải không có cơ sở mà ngay trong chế độ thực dân hà khắc, Phan Châu Trinh đã khởi xướng cứu nước bằng đường lối “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Sự xuống cấp ở đây thấm thía từng ngày, chưa bao giờ người dân bình thường cảm thấy cuộc sống bất an như lúc này. Đường sá, phương tiện giao thông thiếu an toàn (gần đây càng trầm trọng do các vụ cháy xe liên tiếp vì xăng kém phẩm chất), bệnh viện quá tải thê thảm, thực phẩm độc hại tràn lan, trường học cũng không yên tĩnh, đành rằng tất cả đều có phần hệ quả  trực tiếp của những sai lầm hệ thống nói trên về chính trị, kinh tế. Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhận rõ những sai lầm hệ thống ngay trong văn hoá, khoa học, giáo dục, y tế, xã hội nữa. 
Về giáo dục, những yếu kém, bất cập, hư hỏng lưu niên đến nay chưa dứt chứng tỏ đường lối đổi mới cục bộ, chắp vá, vụn vặt, lăng nhăng, từng thực thi qua ba đời bộ trưởng đã hoàn toàn phá sản. Từ lâu, cải cách giáo dục toàn diện, triêt để, đã được cuộc sống cảm nhận bức thiết và TƯ Đảng, Chính Phủ cũng đã có những nghị quyết trịnh trọng khởi xướng từ 6-7 năm nay. Sai lầm hệ thống lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục là đã đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, kìm hãm thế hệ trẻ trong nền cử nghiệp hư học mà ngay từ thời phong kiến, vua Minh Mạng triều Nguyễn đã từng nghiêm khắc lên án nó là nguyên nhân khiến “nhân tài trong nước ngày một kém đi” (“Viêt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, trang 463). Trong đó cái chính sách lương không ra lương, ban đầu còn có lý do bào chữa là do khó khăn kinh tế, kỳ thật là một chính sách thiển cận tai hại, đương nhiên chủ yếu do chịu vòng cương toả của chính sách chung về lương công chức của Nhà nước, nhưng trong đó cũng có một phần không nhỏ là trách nhiệm của bản thân ngành giáo dục. Vì cái chính sách lương kỳ quặc này, không giống bất cứ ai trên thế giới, nên mới có tình trạng cũng không giống ai trên thế giới là thầy giáo không tập trung vào công việc mình được trả lương mà phải đầu tắt mặt tối kiếm thêm thu nhập từ những công việc khác. Nghịch lý lạ lùng là không đâu người thầy bị rẻ rúng, coi thường như ở xứ này, nơi mà từ xa xưa đã có truyền thống tôn kính thầy và nay vẫn luôn nhắc tới bốn chữ tôn sư trọng đạo. Vì vậy, tuy lúc này mới bắt tay cải cách giáo dục cũng đã quá muộn, nhưng lại có thể có thuận lợi cơ bản nếu được làm đồng bộ với cải cách chính trị và cải cách kinh tế như trên đã bàn.
Còn nhớ khi mới bắt đầu đổi mới, vào cuối thập kỷ 80, đã có lúc, do nghe theo đề xuất của một số cán bộ nghiên cứu thiếu hiểu biết, khái niệm hộp đen trong khoa học hệ thống đã được vận dụng khá bừa bãi trong quản lý kinh tế. Kỳ quặc đến nỗi danh từ hộp đen dùng để chỉ các xí nghiệp đã trở thành thời thượng trong các phát biểu của lãnh đạo, trên các báo lớn nhất ở trung ương, và cả một thời gian dài cái áo khoa học sang trọng khoác lên danh từ đó từng là yếu tố kích thích, tạo hứng cho hoạt động của các câu lạc bộ giám đốc xí nghiệp. Thậm chí nhiều người, cả ở cấp lãnh đạo cao, cũng tin tưởng ngây thơ chỉ việc “quay” các hộp đen cho giỏi thì sản xuất sẽ phát triển. Còn “quay” như thế nào thì tuỳ nghi, ai muốn hiểu cách nào cũng được, tha hồ cho trí tưởng tượng mặc sức vẽ vời.  Đó là thời kỳ ấu trĩ, tuy cũng là một cách giải toả bớt tâm lý bế tắc chung vào lúc nhìn đâu cũng thấy khó khăn, nhưng cái hại lớn là tạo ra thói quen say sưa bàn thảo những chuyện vu vơ, chẳng ăn nhập gì với cuộc sống đang nước sôi lửa bỏng hàng ngày. Mong rằng lần này chúng ta không lặp lại sai lầm đó, dù ở trình độ cao hơn.
Tái cơ cấu là để sửa các lỗi hệ thống, cho nên trước hết phải nhận định đúng các lỗi hệ thống, mới biết nên tái cơ cấu như thế nào và sau đó phải có đủ quyết tâm mới thực hiện được đến nơi đến chốn. Toàn bộ công việc đụng chạm đến các nhóm lợi ích mà một số nhóm này gắn chặt với các lỗi hệ thống, cho nên sẽ rất gay go, gian khổ.  Từ hai mươi năm nay đây là thử thách lớn nhất,  cầu mong hồn thiêng sông núi giúp đất nước vượt qua được thử thách này.